CHUONG IV - NẾU EM THẤY ANH BÂY GIỜ..( 10 tieu thuyet tình yêu không nên bỏ qua !)
Sign Up
VuiCa helps you connect and share with the people in your life.

CHƯƠNG 4

Elizabeth quấn chiếc áo ngủ chặt hơn rồi buộc lại ở eo. Cô khoanh đôi chân dài và rúc vào chiếc ghế bành lớn trong phòng khách. Mớ tóc ướt bọc trong khăn bông được búi cao trên đỉnh đầu; da cô tỏa ra mùi sữa tắm lạc tiên. Cô cầm chặt một tách cà phê nóng hổi có kèm một chút kem, nhìn chằm chằm vào tivi. Thật ra là cô đang chán đến phát ốm. Tivi đang phát chương trình cả tạo nhà mà cô thích nhất, và cô thích xem người ta biến những căn phòng tồi tàn nhất trở thành những nơi duyên dáng và tinh tế.
Từ khi còn là đứa trẻ, cô đã muốn cải tạo mọi thứ mình chạm vào. Trong lúc chờ mẹ về, cô giết thời gian bằng cách rải hoa cúc trang hoàng bàn ăn, rắc trang kim lên chiếc thảm chùi chân gần cửa ra vào, tô điểm mặt sàn lát đá hoa màu xám đục của ngôi nhà gỗ bằng một vệt giấy màu lấp lánh, trang trí khung ảnh bằng hoa tươi và rắc cánh hoa lên ga trải giường. Cô cho rằng đó là bản tíh thích cải tạo của cô, luôn muốn thứ tốt đẹp hơn những gì mình có, không bao giờ dừng lại, không bao giờ thỏa mãn.
Cô cũng cho dó là cách thức trẻ con cô dùng để cố gắng giữ chân người mẹ. Cô nhớ mình đã từng nghĩ có lẽ ngôi nhà càng đẹp thì mẹ sẽ ở lại càng lâu. Song hoa cúc trên bàn được thưởng thức không quá năm phút, trang kim trên thảm nhanh chóng bị giẫm lên, hoa quanh khung ảnh không thể sống sót vì thiếu nước, còn những cánh hoa trên giường bị gạt xuống sàn trong giấc ngủ chập chờn của mẹ cô. Khi người mẹ bắt đầu chán những thứ cô làm, Elizabeth lập tức nghĩ đến một thứ gì đó sẽ thật sự thu hút và duy trì được sự chú ý của mẹ, một thứ gì dó khiến mẹ cô lưu tâm lâu hơn năm phút, thứ gì đó mà mẹ cô thích đến mức không thể từ bỏ. Elizabeth không bao giờ nghĩ rằng đáng lẽ chính cô, con gái của mẹ, phải là thứ đó.
Khi lớn hơn, cô bắt đầu thích khám phá vẻ đẹp trong những vật dụng quanh mình. Cô thường xuyên thực hành với những món đồ trong trang trại cũ của cha mình. Giờ đây cô yêu những tháng ngày lao động khi cô có thể sửa chữa được những chiếc lò sưởi cũ, lật những tấm thảm lâu năm để lộ mặt sàn nguyên thủy đẹp đẽ. Ngay trong nhà mình, cô cũng luôn thay đổi mọi thứ, sắp xếp lại, và cố gắng cải thiện. Cô cố gắng vươn tới sự hoàn mỹ. Cô thích đặt ra mục tiêu cho mình, đôi khi là những nhiệm vụ bất khả thi, để chứng minh với bản thân rằng bên dưới những thứ tưởng chừng xấu xí luôn ẩn giấu một vẻ đẹp.
Cô yêu công việc của mình, yêu cảm giác mãn nguyện nó mang lại, và với những khu nhà mới mọc lên ở Baile na gCroíthe và các thị trấn lân cận, công việc này mang lại cho cô một cuộc sống rất đảm bảo. Nếu có gì mới, công ty của Elizabeth là địa chỉ được các chuyên gia phát triển bất động sản lựa chọn. Cô luôn tin chắc rằng thiết kế tốt sẽ nâng cao chất lượng cuộc sống. Cô tán thành không gian đẹp, thiết thực và tiện nghi.
Phòng khách nhà cô sử dụng màu sắc và chất liệu nhẹ nhàng. Đệm da lộn và thảm len mềm; cô thích chạm vào và cảm nhận mọi thứ. Căn phòng có tông màu cà phê kem nhạt, và cũng giống tách cà phê trong tay cô, chúng giúp cô giữ cho đầu óc sáng suốt. Trong một thế giới mà hầu như mọi thứ đều lộn tùng phèo, một ngôi nhà yên bình là thứ vô cùng cần thiết đối với sự minh mẫn của cô. Nó là nơi ẩn náu, là tổ ấm của cô, nơi giúp cô trốn khỏi những chuyện nhọc lòng bên ngoài cánh cửa. Ít nhất trong nhà mình, cô có thể nắm quyền kiểm soát. Không giống những gì xảy ra trong cuộc đời cô, với ngôi nhà này cô được quyền quyết định mời ai vào, ở bao lâu và ở chỗ nào. Chẳng như trái tim cô, nó tùy ý mời người vào mà không cần xin phép, giữ họ ở một vị trí đặc biệt mà cô không can thiệp được, và ước mong họ ở ại lâu hơn họ dự kiến. Không, khách nhà Elizabeth chỉ có thể đến và đi theo sự chỉ đạo của cô. Và cô đã lựa chọn giữ khoảng cách với họ.
Cuộc họp ngày thứ Sáu mang tầm quan trọng sống còn. Cô đã dành hàng tuần chuẩn bị, cập nhật hồ sơ, làm chương trình chiếu slide, tập hợp các bài báo và ảnh tạp chí về những nơi cô thiết kế. Cả sự nghiệp của cô được gói trọn trong một quyển danh mục để thuyết phục khách hàng. Một tòa tháp cổ vươn cao trên sườn đồi nhìn xuống Baile na gCroíthe sắp bị phá hủy đi để lấy chỗ xây khách sạn. Suốt thời Viking, nó đã bảo vệ thị trấn nhỏ bé này trước những kẻ tấn công, nhưng đến giờ thì Elizabeth chẳng thấy lý do nào để nó tồn tại, vì nó không đẹp mà cũng không có bất kỳ giá trị lịch sử nào. Khi những chiếc xe buýt, chật ních các vị khách du lịch đến từ khắp nơi trên thế giới với cặp mắt háo hức, đi thăm Baile na gCroíthe, người ta thậm chí còn chẳng thèm nhắc đến tòa tháp. Chẳng ai tự hào hay quan tâm đến nó. Nó chỉ là một đống đá vỡ vụn, đổ nát, ban ngày là nơi tụ tập của đám thanh niên trong làng còn ban đêm là chốn đi về của những kẻ say, Saoirse thuộc cả hai nhóm đó.
Nhưng rất nhiều người dân thị trấn đã đấu tranh không cho xây dựng khách sạn, tuyên bố tòa tháp ẩn chứa một câu chuyện thần bí và lãng mạn. Người ta bắt đầu lan truyền câu chuyện cho rằng nếu tòa tháp bị phá thì mọi tình yêu sẽ không còn. Câu chuyện đã thu hút sự chú ý của báo lá cải và những chương trình về đời sống và cuối cùng các chuyên gia phát triển bất động sản nhìn thấy ở đó một mỏ vàng còn lớn hơn mong đợi. Họ quyết định khôi phục tòa tháp trở lại hình dáng ban đầu vào thời hoàng kim của nó và xây khách sạn bên cạnh, lấy tòa tháp làm điểm nhấn lịch sử cho sân khách sạn, và bằng cách đó giữ tình yêu sống mãi trong Thị trấn của Trái tim. Ngay lập tức có rất nhiều người từ khắp cả nước muốn đến nghỉ tại khách sạn gần ngọn tháp được tình yêu phù hộ.
Elizabeth không tin câu chuyện đó. Cô cho nó là một câu chuyện kỳ quặc được bịa ra bởi những người dân thị trấn vốn lo sợ sự thay đổi và muốn giữ tòa tháp lại trên núi. Đólà câu chuyện nhằm thu hút khách du lịch và những kẻ mộng mơ, nhưng cô không chối cãi rằng thiết kế nội thất cho khách sạn là công việc hoàn hảo đối với cô. Khách sạn không lớn, nhưng sẽ cung cấp việc làm cho người dân Hartstown. Hơn nữa, nó chỉ cách nhà cô vài phút và trong thời gian thực hiện dự án cô sẽ không phải lo lắng về việc ở xa Luke quá lâu.
Trước khi Luke chào đời, Elizabeth rất hay đi xa. Cô chẳng bao giờ ở lại Baile gCroíthe quá vài tuần và thích được tự do đi đây đó, thực hiện nhiều dự án ở nhiều hạt khác nhau. Dự án lớn gần đây nhất đã đưa cô tới New York, nhưng ngay khi Luke chào đời, tất cả chuyện đó đã kết thúc. Khi Luke còn nhỏ, Elizabeth không thể tiếp tục công việc vòng quanh đất nước, chứ đừng nói là nước ngoài. Khoảng thời gian đó thật khó khăn, cố gắng tạo lập công việc làm ăn ở Baile na gCroíthe và cố gắng làm quen với việc lại nuôi dạy một đứa trẻ. Cô chẳng có lựa chọn nào khác ngoài thuê Edith, vì cha cô không giúp đỡ, còn Saoirse thì chắc chắn không có chút hứng thú nào. Giờ đây khi Luke lớn hơn và đã đến trường, Elizabeth phát hiện ra tìm việc gần nhà càng lúc càng khó khăn hơn. Làn sóng xây dựng ở Baile na gCroíthe cuối cùng sẽ lắng xuống và trong cô luôn thường trực một nỗi lo không biết liệu có khi nào sẽ chẳng còn việc gì mà làm hay không.
Đáng lẽ cô không nên bỏ lỡ cuộc họp ngày thứ Sáu. Không ai trong văn phòng có thể trình bày về khả năng thiết kế nội thất của cô một cách thuyết phục hơn chính bản thân cô. Nhân viên của cô gồm cô lễ tân Becca và Poppy. Becca là cô bé mười bảy tuổi vô cùng rụt rè, đến làm việc cho Elizabeth trong năm học cuối cấp để lấy kinh nghiệm, rồi không muốn quay lại trường nữa. Cô bé là người chăm chỉ, kín đáo và ít lời, những đức tính mà Elizabeth thích. Elizabeth lập tức nhận cô sau khi Saoirse, người Elizabeth thuê làm việc bán thời gian, làm cô thất vọng. Thực ra Saoirse còn hơn cả làm cô thất vọng, Elizabeth đã tuyệt vọng đến mức phải vội vàng tìm người thay thế. Để dọn dẹp hậu quả. Một lần nữa. Việc giữ Saoirse ở gần cô suốt ngày nhằm giúp cô ta tự lập lại chỉ đẩy cô ta ra xa hơn, và hạ gục cô.
Ngoài ra còn có Poppy hai mươi lăm tuổi, mới tốt nghiệp trường nghệ thuật, đầy những ý tưởng sáng tạo không chút khả thi và sẵn sàng tô điểm thế giới bằng một màu sơn cô vẫn chưa phát minh ra. Trong văn phòng chỉ vẻn vẹn ba người, nhưng Elizabeth cũng hay thuê bà Bracken, một thiên tài may vá sáu mươi tám tuổi, bà chủ một cửa hàng rèm thảm trong thị trấn. Bà ta hay gắt gỏng đến mức khó tin và nhất quyết bắt mọi người phải gọi là bà Bracken chứ không phải Gwen, để tưởng nhớ tới người chồng quá cố là ông Bracken, người Elizabeth cho rằng chưa chắc đã được đặt tên thánh. Và cuối cùng là Harry, người đàn ông năm mươi hai tuổi làm đủ mọi công việc lặt vặt, người có thể làm đủ mọi thứ từ treo tranh cho tới mắc dây điện cho cả tòa nhà nhưng lại không thể hiểu nổi khái niệm một phụ nữ độc thân có sự nghiệp, chưa nói đến một phụ nữ độc thân, có sự nghiệp và một đứa con không phải của cô ta. Tùy vào túi tiền của khách hàng, Elizabeth có thể làm tất cả mọi việc từ thuê thợ sơn và chuyên gia trang trí cho tới tự tay làm tất cả. Nhưng đa phần cô thích tự làm. Cô muốn được chứng kiến sự đổi thay diễn ra ngay trước mắt mình và bản tính của cô là thích tự sửa chữa mọi thứ.
Việc Saoirse xuất hiện ở nhà Elizabeth sáng hôm đó cũng không có gì là lạ. Cô ta thường đến khi đã say mèm và bị đánh đập, sẵn sàng mang đi mọi thứ cô ta vớ được - dĩ nhiên là mọi thứ có thể bán được, đương nhiên không bao gồm Luke. Thậm chí Elizabeth không biết Saoirse có còn nghiện rượu nữa hay không; đã lâu lắm rồi  cô không nói chuyện với em. Cô đã cố gắng giúp em gái từ khi cô ta mười bốn tuổi. Cứ như thể có một cái công tắc trong đầu Saoire đã được bật lên khiến cô ta lạc vào một thế giới khác. Elizabeth đã thử gửi em đến nhân viên tư vấn, trung tâm cai nghiện, bác sĩ, cô cho em tiền, tìm hộ việc làm, thuê Saoire làm việc cho mình, chấp nhận cho ở nhờ, thậm chí thuê cả căn hộ cho Saoire. Cô đã thử làm bạn, thử làm kẻ thù của em mình, đã cười đùa cùng cô ta và mắng mỏ cô ta, nhưng chẳng ích lợi luôn. Saoire đã lạc lối, lạc đến một thế giới nơi chẳng còn ai khác là quan trọng nữa.
Elizabeth không thể không nghĩ tới sự trớ trêu trong cái tên của em gái. Saoire không tự do. Có thể em cô cảm thấy mình tự do, muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, không ràng buộc bởi bất cứ ai, bất cứ cái gì, bất cứ nơi nào, nhưng cô ta làm nô lệ cho thói nghiện ngập của mình. Mặc dù vậy, cô ta không nhận ra điều đó, và Elizabeth cũng không thể giúp cô ta nhận ra điều đó. Cô không thể hoàn toàn quay lưng lại với em gái, nhưng cũng đã cạn kiệt mọi sức lực, ý tưởng và sự tin tưởng dành cho niềm tin rồi Saoire sẽ thay đổi, cô đã mấg đi những người yêu, người bạn bởi sự kiên trì của mình. Họ tức giận khi ở bên cạnh và chứng kiến cô bị lợi dụng hết lần này đến lần khác, cho đến khi không thể nán lại trong cuộc đời cô nữa. Song trái ngược với suy nghĩ của họ, Elizabeth không cảm thấy mình là nạn nhân. Cô luôn làm chủ được mình. Cô biết mình đang làm gì cũng như tại sao lại làm thế, và cô kiên quyết không bỏ rơi một thành viên trong gia đình. Cô sẽ không giống mẹ mình. Cô đã nỗ lực suốt cả cuộc đời để cố gắng không trở thành một người như thế.
Elizabeth đột ngột nhấn phím Câm trên chiếc điều khiển tivi và căn phòng rơi vào yên lặng. Cô ngả đầu sang một bên. Cô nghĩ mình lại nghe thấy tiếng gì đó. Sau khi nhìn quanh phòng và thấy mọi thứ vẫn yên ổn, cô lại bật tiếng lên.
Nó lại xuất hiện.
Cô tắt tiếng tivi lần nữa và đứng lên khỏi ghế.
Giờ là 10h15 và trời vẫn chưa tối hẳn. Cô nhìn ra khu vườn sau nhà, trong bóng tối cô chỉ có thể thấy những bóng đèn mờ mờ. Cô vội kéo rèm lại và ngay lập tức cảm thấy an toàn hơn trong cái kén màu kem và be của mình. Cô lại thắt chặt chiếc áo ngủ và ngồi xuống ghế bành, khoanh chân sát hơn và vòng tay ôm đầu gối đầy phòng thủ. Chiếc đi văng bọc da màu kem trống không đang nhìn cô chằm chằm. Cô rùng mình lần nữa, chỉnh âm lượng tivi to hơn, rồi uống một ngụm cà phê lớn. Thứ chất lỏng sẫm màu chảy xuống họng giúp cô thấy ấm hơn, và cô lại cố gắng chìm vào thế giới truyền hình.
Cả ngày hôm nay cô đã có cảm giác rất kỳ cục. Cha cô luôn bảo rằng khi ta cảm thấy ớn lạnh ở sống lưng thì có nghĩa là có ai đó đang làm ta rùng mình. Elizabeth không tin chuyện đó nhưng khi nhìn màn hình tivi, cô quay đầu lại với chiếc đi văng bọc da dành cho ba người, cố gắng xua tan cảm giác có một cặp mắt đang quan sát mình.

Ivan quan sát cô tắt tiếng tivi một lần nữa, đặt vội cốc cà phê lên chiếc bàn bên cạnh và nhảy ra khỏi ghế như đang ngồi phải đinh. Cô lại nghe thấy rồi, anh nghĩ. Đôi mắt cô mở to hoảng hốt nhìn quanh phòng. Một lần nữa Ivan lại tránh và nghiêng hẳn người về phía góc đi văng. Chiếc quần jeans của anh cọ vào lớp da sột soạt.
Elizabeth nhảy tới đối diện với chiếc đi văng.
Cô chộp lấy chiếc cời lửa bằng sắt đen từ chiếc lò suởi lớn bằng đá cẩm thạch và khua khoắng quanh chỗ đứng. Những ngón tay siết chặt chiếc cời lửa đến mức các đốt trắng bệch ra. Cô rón rén đi quanh phòng, mắt long lên sợ hãi. Lớp ghế da anh ngồi lại kêu sột soạt và Elizabeth quay phắt về phía đi vắng. Ivan nhảy ra khỏi chỗ ngồi và lẩn vào góc phòng.
Anh trốn sau tấm rèm quan sát cô vừa lật tấm đệm ra khỏi ghế vừa càu nhàu về chuột. Sau mười phút lục soát đi văng, Elizabeth đặt tấm đệm về chỗ cũ và xếp lại ngay ngắn.
Cô bồn chồn cầm cốc cà phê lên và đi vào bếp. Ivan bám sát cô; anh đi gần đến nỗi những lọn tóc mềm mại của cô cù vào mặt anh. Mái tóc cô thoảng mùi dừa và làn da thơm mùi hoa quả.
Anh không thể hiểu tại sao lại bị cô thu hút. Anh đã theo dõi cô từ sau bữa trưa thứ Sáu. Luke liên tục rủ anh chơi hết trò này đến trò khác còn Ivan thì chỉ muốn ở cạnh Elizabeth. Ban đầu chỉ nhằm tìm hiểu xem cô có nghe thấy hoặc cảm thấy anh nữa không, nhưng sau vài giờ thì anh thấy cô thật hấp dẫn. Cô ngăn nắp như bị ám ảnh. Anh để ý thấy cô không thể rời căn phòng để trả lời điện thoại hoặc mở cửa nếu mọi thứ chưa được sắp xếp gọn gàng và lau chùi sạch sẽ. Cô uống rất người cà phê, hay nhìn xa xăm ra vườn, nhặt những sợi vải tưởng tượng trên gần như đủ mọi thứ. Và cô suy nghĩ. Anh có thể nhìn thấy điều đó trên mặt cô. Lông mày cô nhíu lại khi đang tập trung, còn nét mặt thì luôn thay đổi như thể trong đầu cô đang diễn ra một cuộc đối thoại. Dựa trên sự thay đổi trên trán cô thì có vẻ những cuộc đối thoại đó thường bị biến thành cuộc tranh luận.
Anh để ý thấy cô luôn bị vây kín trong sự yên lặng. Chưa từng có bất kỳ tiếng nhạc hay âm thanh nào để làm nền giống như hầu hết mọi người, không tiếng đài om sòm, cửa sổ cũng không mở cửa để đón những thanh âm mùa hè - tiếng chim hót và tiếng máy cắt cỏ. Cô và Luke chẳng mấy khi chuyện trò với nhau, nếu có nói thì hầu như chỉ là cô ra lệnh cho Luke, cậu xin phép cô, chẳng có gì thú vị. Điện thoại hiếm khi reo, cũng chẳng ai ghé thăm. Dường như những cuộc đối thoại, trong đầu cô đã đủ để lấp đầy sự im lặng của cô.
Anh dành gần hết ngày thứ Sáu và thứ Bảy để đi theo cô, ngồi cả tối trên đi văng bọc da màu kem quan sát cô theo dõi chương trình tivi duy nhất mà cô có vẻ thích. Họ cười phá lên cùng lúc, làu bàu khó chịu cùng lúc và họ có vẻ hoàn toàn tâm đầu ý hợp, dù cô không biết anh đang ở đó. Đêm qua anh đã quan sát cô ngủ. Cô thao thức suốt đêm - chỉ ngủ khoảng ba đến bốn tiếng là cùng; thời gian còn lại cô dành để đọc sách, nhưng chỉ sau năm phút là đặt cuốn sách xuống, nhìn chăm chăm vào khoảng không, lại cầm sách lên, đọc vài trang, đọc lại chính những trang đó, lại đặt sách xuống, nhắm mắt lại, mở mắt ra, bật đèn lên, vẽ phác thảo đồ nội thất và các căn phòng, nghịch thuốc vẽ, bảng màu, những mảnh vải, rồi lại tắt đèn.
Chỉ quan sát cô từ chiếc ghế nhồi rơm trong góc phòng cũng khiến Ivan phát mệt. Những chuyến đi đến bếp lấy cà phê chẳng giúp được luôn cho cô. Sáng Chủ nhật cô dậy sớm, dọn dẹp, hút bụi, lau chùi ngôi nhà vốn đã chẳng có lấy một vết bẩn nào. Cô dành cả buổi sáng cho việc đó trong khi Ivan chơi đuổi bắt với Luke trong vườn sau. Anh nhớ Elizabeth đã rất bối rối khi nhìn thấy Luke chạy quanh vườn vui cười và la hét một mình. Cô ngồi xuống bàn ăn với họ, quan sát Luke chơi bài, lắc đầu và lộ rõ vẻ lo lắng khi cậu kiên nhẫn giảng giải luật chơi một cách vô cùng chi tiết cho khoảng không trước mặt.
Đến chín giờ tối khi Luke đi ngủ, Ivan đọc cho cậu nghe câu chuyện về Tom Thumb nhanh hơn bình thường rồi vội vàng tiếp tục theo dõi Elizabeth. Anh có thể cảm thấy càng lúc cô càng trở nên bồn chồn hơn.
Cô rửa kỹ tách bát cà phê, đảm bảo nó đã sạch tinh trước khi đặt vào máy rửa bát. Cô lấy khăn lau khô bồn rửa rồi ném chiếc khăn vào giỏ đựng đồ trong phòng giặt. Cô nhặt những sợi vải tưởng tượng ra khỏi một vài vật dụng trên đường đi của mình, nhặt những mảnh vụn trên sàn, tắt tất cả đèn rồi lại bắt đầu quy trình đó trong phòng khách. Cô đã lặp lại chính xác những gì đã làm trong hai đêm trước.
Nhưng lần này trước khi rời phòng khách, cô đột ngột dừng lại, khiến Ivan gần như đâm bổ vào lưng cô. Tim anh đập rộn lên. Lẽ nào cô đã cảm thấy anh?
Cô từ từ quay lại.
Anh sửa lại chiếc áo đang mặc cho ngay ngắn.
Khi cô đứng thẳng trước mặt, anh mỉm cười. "Xin chào," anh nói, cảm thấy vô cùng bối rối.
Cô mệt mỏi dụi mắt rồi lại mở mắt ra. "Ôi, Elizabeth, mày điên rồi," cô thì thầm. Cô cắn môi và hướng về phía Ivan.


<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0>
<TBODY>
<TR>
<TD class=t_f id=postmessage_1443391 style="TEXT-ALIGN: justify">CHƯƠNG 5

Elizabeth biết ngay lúc đó cô đã mất trí rồi. Nó đã xảy ra với mẹ và em gái cô, và giờ tới lượt cô. Trong mấy ngày vừa qua, cô cảm thấy bất an đến không ngờ, như thể có ai đó đang theo dõi cô. Cô đã khóa hết cửa, kéo hết rèm, bật chuông báo động. Đáng lẽ như thế là đủ rồi nhưng giờ cô quyết định đi xa hơn một bước.
Cô xông qua phòng khách đâm bổ đến chỗ lò sưởi, chộp lấy que cời sắt, hùng dũng bước ra khỏi phòng, khóa cửa và lên gác. Cô nhìn chiếc cời lửa nằm trên chiếc tủ đầu giường, đảo mắt rồi tắt đèn đi ngủ. Cô đã mất trí rồi.
Ivan xuất hiện từ phía sau chiếc đi văng và nhìn xung quanh. Anh đã nấp vào đó vì tưởng Elizabeth định xông vào mình. Anh đã nghe tiếng cô khóa cửa sau khi lao ra. Anh chưng hửng vì một sự thất vọng mà anh chưa từng cảm thấy trước đây. Cô vẫn không nhìn thấy anh.

Bạn biết đấy, tôi không có phép thần thông. Tôi không thể khoanh tay, gật đầu, lập lòe lúc ẩn lúc hiện, biến mất rồi lại hiện ra trên nóc tủ sách hoặc bất cứ thứ gì. Tôi không sống trong một chiếc đèn, không có đôi tai nhỏ tức cười, không có bàn chân lông lá to tướng hay đôi cánh. Tôi không đưa tiền để đổi lấy răng lung lay, không đặt quà tặng dưới gốc cây hay giấu những quả trứng sôcôla. Tôi không biết bay, đi trên tường nhà cao tầng hay chạy nhanh hơn tốc độ ánh sáng.
Và tôi không mở được cửa.
Phải có ai đó mở hộ tôi. Người lớn thấy đó là điều đáng buồn cười nhất và cũng đáng xấu hổ nhất khi con họ thể hiện như vậy trước mặt người khác. Tôi không cười người lớn khi họ không thể trèo cây hay đọc ngược bảng chữ cái bởi vì đơn giản theo quy luật tự nhiên thì đó không phải là khả năng của họ. Nó đâu có khiến họ trở thành quái vật.
Vì thế tối đó Elizabeth không cần phải khóa cửa phòng khách trước khi đi ngủ làm gì và đằng nào thì tôi cũng chẳng xoay được nắm cửa. Như đã nói, tôi không phải siêu nhân; sức mạnh đặc biệt của tôi là tình bạn. Tôi lắng nghe và hiểu những gì người khác nói. Tôi hiểu giọng điệu của họ, từ ngữ họ dùng để tự diễn đạt, và quan trọng hơn, tôi nghe thấy những điều họ không nói.
Vì thế tối đó tất cả những gì tôi có thể làm là nghĩ về người bạn mới của tôi, Luke. Thỉnh thoảng tôi cần phải làm việc này. Tôi phác ra trong đầu những điểm chính để có thể lập báo cáo gửi người phụ trách. Họ cần lưu mọi báo cáo để phục vụ cho mục đích đào tạo. Chúng tôi thường xuyên có người mới. Thực tế là khi ở giữa bạn bè là lúc tôi đang thuyết trình.
Tôi cần phải nghĩ xem tại sao tôi lại ở đây. Điều gì đã khiến cho Luke muốn gặp tôi? Cậu ấy sẽ được những gì từ tình bạn của chúng tôi? Công việc này được tiến hành rất chuyên nghiệp và chúng tôi phải luôn luôn cung cấp cho công ty một tiểu sử tóm tắt của bạn mình và liệt kê ra ý định và mục tiêu của chúng tôi. Từ trước đến nay tôi đều có thể xác định được vấn đề ngay lập tức, nhưng trường hợp này thì hơi trắc trở một chút. Bạn biết đấy, trước đây tôi chưa bao giờ làm bạn với người lớn. Ai đã từng làm việc đó thì sẽ hiểu tại sao. Họ chẳng có gì thú vị cả. Họ cứng nhắc tuân theo thời gian biểu, quan tâm đến những thứ vô nghĩa nhất trên đời, như tiền thế chấp và bản kê tài khoản ngân hàng, trong khi ai cũng biết rằng trong phần lớn thời gian chính những người xung quanh mới làm chúng ta cười. Họ lúc nào cũng làm việc, không chơi bời, trong khi tôi làm việc chăm chỉ, thực sự như vậy, nhưng chơi là chuyện tôi thích nhất.
Chẳng hạn như Elizabeth; cô nằm trên giường lo lắng về thuế xe và hóa đơn điện thoại các cô trông trẻ và màu sơn. Nếu không sơn tường màu hoa mộc lan được thì bạn lúc nào cũng có thể dùng hàng triệu màu khác; nếu không trả được tiền điện thoại thì bạn chỉ việc viết thư cho họ. Người ta thường quên mất mình có sự lựa chọn. Và họ quên mất là những thứ này thật sự không quan trọng. Lẽ ra họ nên quan tâm đến những thứ họ có chứ không phải những thứ họ không có. Nhưng tôi lại đi chệch chủ đề rồi.
Tôi hơi lo về công việc của mình khi bị khóa trong phòng khách đêm hôm ấy. Đây là lần đầu tiên chuyện này xảy ra. Tôi lo vì không hiểu nổi tại sao mình lại ở nơi này. Luke có hoàn cảnh gia đình đặc biệt nhưng điều đó cũng là bình thường và tôi có thể nói cậu ta vẫn cảm thấy được yêu thương. Cậu vui vẻ và thích chơi đùa, đêm ngủ say, ăn tốt, cậu có một cậu bạn dễ thương tên là Sam và khi cậu nói chuyện tôi cố gắng lắng nghe để xem có thể hiểu những gì cậu không nói ra hay không nhưng chẳng có gì cả. Cậu thích sống cùng bác mình, sợ mẹ cậu và thích nói chuyện về cây cỏ với ông ngoại. Nhưng việc Luke ngày nào cũng nhìn thấy và muốn chơi với tôi cho thấy tôi cần phải ở đây vì cậu.
Mặt khác, bác của cậu không bao giờ ngủ ngon, ăn rất ít, luôn bị bao vây bởi một sự im lặng ầm ĩ đến điếc tai, cô không có ai thân thiết để nói chuyện, dù sao thì đó cũng là điều tôi nhận thấy, và cô không nói xa hơn những gì cô nói thành lời. Cô đã nghe thấy tôi nói cảm ơn một lần, cảm thấy hơi thở của tôi vài lần, nghe thấy tôi cựa quậy trên ghế da nhưng cô không nhìn thấy tôi mà cũng chẳng thể chịu nổi việc tôi có mặt trong nhà cô.
Elizabeth không muốn chơi.
Hơn nữa cô lại là người lớn, cô khiến tôi lo lắng bồn chồng và cô sẽ chẳng nhận ra nổi các trò vui cho dù nó có đập thẳng vào mặt cô, cứ tin tôi đi, vào dịp cuối tuần, tôi đã đầy lần cố tạo sự vui vẻ cho cô rồi. Vì thế chắc không phải tôi ở đây để giúp cô. Chuyện này chưa từng xảy ra.
Người ta thường nhắc đến tôi như một người bạn vô hình hoặc tưởng tượng. Cứ như thể tôi được bao bọc bởi một bức màn huyền bí dày đặc nào đó. Tôi đã từng đọc những cuốn sách do người lớn viết, hỏi tại sao bọn trẻ nhìn thấy tôi, tại sao suốt một thời gian dài chúng đã tin vào tôi đến thế, rồi đột ngột dừng lại và quay về với cách xử sự như trước kia? Tôi đã từng xem các chương trình tivi tranh luận về chuyện  tại sao trẻ em lại sáng tạo ra những người như tôi.
Vậy thì để tôi nói một cách nghiệm túc cho tất cả các bạn nghe, tôi không phải người vô hình hay tưởng tượng. Tôi luôn ở đây, đi lại khắp nơi như tất cả các bạn. Và những người như Luke không lựa chọn việc nhìn thấy tôi, đơn giản chúng tự nhiên nhìn thấy tôi. Chính những người như các bạn và Elizabeth đã lựa chọn việc không nhìn thấy.
</TD></TR></TBODY></TABLE>

CHƯƠNG 6

Ánh nắng xuyên qua cửa sổ phòng ngủ chiếu vào mặt Elizabeth, đánh thức cô dậy lúc 6h8phút sáng. Cô luôn mở rèm khi ngủ. Thói quen bắt nguồn từ việc lớn lên trong trang trại. Nằm trên giường, cô có thể nhìn xuyên qua cửa sổ ngôi nhà gỗ xuống con đường làng dài khoảng một dặm chạy thẳng từ trang trại. Elizabeth có thể nhìn thấy mẹ cô trở về sau những chuyến phiêu lưu của bà, đi bộ trên đường ít nhất hai mươi phút trước khi tới nhà. Cô có thể nhận ra kiểu nhún nhảy đó từ cách xa hàng dặm. Khoảng thời gian hai mươi phút đó tưởng như vô tận đối với Elizabeth. Con đường có cách để dồn đắp sự hồi hộp trong cô, gần như trêu ngươi cô vậy.
Và cuối cùng cô cũng nghe thấy âm thanh quen thuộc đó, tiếng cổng trước cót két. Những chiếc bản lề gỉ sét như một ban nhạc chào mừng tâm hồn tự do của mẹ cô. Đối với Elizabeth, chiếc cổng là thứ cô vừa yêu vừa ghét. Cũng như đoạn đường rất dài, nó như đùa cợt cô vậy, và có những ngày nghe tiếng kẹt cửa, cô chạy ngay ra xem ai tới, để rồi trái tim chùng xuống khi thấy đó chỉ là người đưa thư.
Elizabeth luôn khiến bạn bè chung phòng tại trường đại học và người yêu khó chịu vì cứ nhất quyết để rèm mở. Cô không biết tại sao mình lại khăng khăng như vậy; chắc chắn không phải để tỏ ra như cô vẫn đang chờ đợi. Nhưng giờ đây khi đã trưởng thành, chiếc rèm để mở là cái đồng hồ báo thức; như vậy cô biết ánh sáng sẽ không cho cô quay lại giấc ngủ sâu. Ngay cả trong giấc ngủ cô cũng có cảm giác đề phòng và chủ động. Cô lên giường để nghỉ ngơi, không phải để mơ.
Cô há miệng ngáp dài trong căn phòng tràn ngập ánh sáng, các mạch máu trên đầu chạy rần rật. Cô cần cà phê, nhanh. Ngoài cửa sổ tiếng chim hót vang vọng trong sự tĩnh lặng của đồng quê. Xa xa đâu đó có tiếng một con bò đáp lại. Bất chấp vẻ đẹp của buổi sáng nơi thôn dã, Elizabeth không chờ đợi gì ở ngày thứ Hai này. Cô đã cố gắng dàn xếp lại cuộc họp với các chuyên gia phát triển khách sạn, một nhiệm vụ khó khăn vì sau khi báo chí xôn xao về chiếc tổ tình yêu mới trên đỉnh núi thì người từ khắp thế giới đã bay đến đây háo hức chia sẻ ý tưởng thiết kế. Điều này làm Elizabeth khó chịu; đây là lãnh địa của cô. Nhưng đó không phải là vấn đề duy nhất của Elizabeth.
Luke được ông ngoại mời đến trang trại chơi cả ngày. Elizabeth có phần vui mừng trước việc này. Điều làm cô lo lắng là ông mong ngóng một cậu bé sáu tuổi nữa có tên là Ivan. Sáng nay cô sẽ phải nói chuyện này với Luke, vì cô hoảng sợ nghĩ tới chuyện sẽ xảy ra khi Luke nhắc về người bạn tưởng tượng với cha cô.
Ông Brendan đã sáu mươi nhăm tuổi, cao lớn, trầm lặng và ủ ê. Tuổi tác không làm ông vui vẻ hơn; thay vào đó nó mang đến sự cay đắng, oán giận và bối rối. Ông là người hẹp hòi, không sẵn lòng cởi mở hay thay đổi. Nếu sống theo cách đó giúp ông hạnh phúc, thì ít nhất Elizabeth cũng cố gắng thông cảm cho bản tính khó chịu của ông, nhưng theo cô thấy thì cách nhìn nhận của ông đã chống lại ông và khiến cuộc sống của ông càng thêm khốn khổ. Ông lạnh lùng, ít khi mở miệng trừ khi nói về lũ bò hay cây cối, chẳng bao giờ cười, và bất cứ khi nào cho rằng có ai đó đáng để ông mở lời, thì ông lại lên lớp người ta. Ông cũng không cần người ta trả lời. Ông không nói để đối thoại. Ông nói để khẳng ịnh. Ông rất ít khi ở bên Luke vì ông không có thời gian cho những chuyện thần tiên vớ vẩn, những trò chơi ngốc nghếch vô nghĩa của trẻ con. Điểm duy nhất mà Elizabeth có thể nhận thấy ông thích ở Luke là cậu là một cuốn vở trắng, sẵn sàng tiếp nhận thông tin và chưa có đủ kiến thức để tranh luận hoặc phê phán. Cha cô không có chỗ cho truyện cổ tích và thần tiên. Cô cho rằng đó là điểm chung duy nhất giữa cô và cha cô.
Cô ngáp rồi duỗi người, vẫn không thể mở mắt ra trước ánh sáng chói chang, cô quờ quạng quanh chiếc tủ đầu giường tìm cái đồng hồ báo thức. Mặc dù sáng nào cũng dậy vào một giờ cố định nhưng cô không bao giờ quên đặt đồng hồ báo thức. Tay cô đập vào một cái gì đó cứng, lạnh và nó rơi bộp xuống sàn. Trái tim ngáp ngủ của cô đập thót lên sợ hãi.
Ngó quanh thành giường, cô nhìn thấy chiếc cời lửa bằng sắt đang nằm trên tấm thảm trắng. Thứ "vũ khí" này nhắc cô phải gọi Rentokil đến diệt chuột. Suốt mấy ngày cuối tuần cô đã cảm thấy sự hiện diện của chúng trong nhà, cô đã tưởng tượng ra chúng đang ở trong phòng ngủ của mình, đến nỗi mấy đêm nay cô không sao ngủ được, mặc dù với cô mất ngủ không phải là chuyện lạ.
Sau khi đã tắm rửa mặc quần áo chỉnh tề và đánh thức Luke dậy, cô xuống cầu thang vào bếp. Vài phút sau, với ly cà phê trong tay, cô quay số gọi Rentokil. Luke mắt nhắm mắt mở bước vào bếp, mái tóc bạch kim bù xù, áo phông màu da cam thò một nửa ra ngoài chiếc quần soóc đỏ. Bộ quần áo được bổ sung đôi tất cọc cạch và đôi giày thể thao phát sáng theo bước chân cậu.
"Ivan đâu ạ?" Cậu chệnh choạng hỏi, nhìn quanh bếp như thể trước đây chưa bao giờ tới phòng này. Sáng nào cậu cũng như thế; phải mất ít nhất một tiếng đồng hồ để hoàn toàn tỉnh ngủ mặc dù cậu đã ra khỏi giường và mặc quần áo chỉnh tề. Những buổi sáng mùa đông u ám thì còn lâu hơn. Elizabeth cho rằng có lẽ phải đến tận lúc ngồi học ở trường khi trời đã sáng bảnh ra, thằng bé mới nhận ra mình đang làm gì.
"Ivan đâu ạ?" Cậu hỏi lại.
Elizabeth đưa ngón trỏ lên môi, rồi đưa mắt ra hiệu cho cậu yên lặng, vì cô đang nghe người phụ nữ của công ty Rentokil nói. Cậu biết không được ngắt lời khi cô đang nói chuyện điện thoại. "Vâng, tôi cũng mới phát hiện ra từ cuối tuần này thôi. Đúng ra là từ trưa thứ Sáu, nên tôi không biết..."
"IVAN!" Luke gọi to, và bắt đầu tìm duới bàn ăn, sau rèm, sau cửa. Elizabeth nhướng mày. Lại cái trò ầm ĩ này nữa.
"Không, tôi chưa nhìn thấy..."
"IVANNNN!"
"... con nào cả nhưng tôi cảm thấy chắc chắn là chúng có ở đây." Elizabeth ngừng lời, và đưa mắt tìm Luke để cố gắng nhắc cậu lần nữa.
"IVAN, CẬU Ở ĐÂU THẾ?" Luke gọi.
"Phân chuột à? Không, không có phân," Elizabeth nói, bắt đầu thấy bực.
Luke ngừng hét và dỏng tai lên nghe. "CÁI GÌ CƠ? TỚ KHÔNG NGHE RÕ CẬU NÓI GÌ."
"Không, tôi không có cái bẫy chuột nào cả. Chị nghe này, tôi rất bận, tôi không có thời gian cho hai mươi câu hỏi đâu. Chị có thể cử ai đó đến tự kiểm tra không?" Elizabeth ngắt lời.
Luke đột ngột chạy khỏi bếp và phóng ra hành lang. Cô nghe tiếng cậu đập cửa phòng khách. "CẬU LÀM GÌ TRONG ĐÓ THẾ IVAN?" Cậu kéo tay nắm cửa.
Cuối cùng cuộc đối thoại của Elizabeth cũng kết thúc và cô đập máy xuống. Luke đang hét hết cỡ qua cánh cửa phòng khách. Máu trong người cô sôi lên.
"LUKE! VÀO ĐÂY NGAY!"
Tiếng đập cửa phòng khách lập tức ngừng lại. Cậu chậm chạp lê vào bếp.
"KHÔNG LÊ CHÂN NHƯ THẾ!" Cô quát.
Cậu nhấc chân lên và cái đèn ở đế giày lại phát sáng mỗi bước cậu đi. Cậu đứng trước mặt cô, nói khẽ và ngây thơ hết mức với cái giọng thanh thanh của mình. "Sao đêm qua bác lại nhốt Ivan trong phòng khách?"
Im lặng.
Cô phải chấm dứt chuyện này ngay bây giờ. Cô quyết định chọn thời điểm này để ngồi xuống và nói chuyện với Luke để rồi sau đó thằng bé sẽ phải tôn trọng những mong muốn của cô. Cô sẽ giúp nó hiêu thực tế và chấm dứt nói về những người bạn vô hình.
"Ivan muốn biết tại sao bác lại mang cái cời lửa vào phòng ngủ?" Cậu nói thêm, cảm thấy tự tin hơn một chút khi thấy cô không quát nữa.
Elizabeth nổi khùng. "Con không được nói về cái cậu Ivan này nữa, có nghe thấy không hả?"
Khuôn mặt Luke trắng bệch.
"CÓ NGHE THẤY KHÔNG HẢ?" Cô hét. Cô không để thằng bé có cơ hội trả lời. "Con cũng biết rõ như bác là không có cái thứ nào giống như cậu Ivan đó. Cậu ta không chơi đuổi bắt, không ăn pizza, không có trong phòng khách và không phải bạn con, vì cậu ta không tồn tại."
Mặt Luke méo xệch như sắp khóc.
Elizabeth nói tiếp, "Hôm nay con sẽ đến chỗ ông và nếu ông nói với bác là con nhắc đến Ivan, thì con sẽ gặp rắc rối to đấy. Con có hiểu không?"
Luke bắt đầu khóc khe khẽ.
"Con có hiểu không hả?" Cô nhắc lại.
Thằng bé chậm chạp gật đầu trong khi nước mắt chảy xuống má.
Máu trong người Elizabeth không còn sôi lên sùng sục nữa, cổ họng cô bắt đầu đau vì quát to. "Giờ thì ngồi xuống bàn đi và bác sẽ mang ngũ cốc ra cho con," cô nói nhẹ nhàng. Cô lấy hộp Coco Pops. Thường thì cô không cho thằng bé ăn bữa sáng bằng đồ ngọt như thế này nhưng cô cũng đã không nói chuyện với thằng bé về Ivan theo cách đã định. Cô biết cô không giữ được bình tĩnh. Cô ngồi ở bàn nhìn thằng bé đổ Coco Pops vào bát ngũ cốc, thấy tay nó run run khi cầm hộp sữa nặng. Sữa đổ ra ngoài. Cô kìm mình không quát nó một lần nữa dù tối qua cô đã lau bàn cho đến lúc sáng bóng lên. Có điều gì đó trong câu nói của Luke khiến cô cấn cá nhưng cô không nhớ được đó là gì. Cô tì cằm lên tay, quan sát thằng bé ăn.
Nó nhai từ từ. Buồn bã. Im lặng giữa mỗi miếng. Cuối cùng, sau vài phút, thằng bé lên tiếng. "Chìa khóa phòng khách đâu hả bác?" Nó hỏi, tránh không nhìn vào mắt cô.
"Luke, không được nói lúc đang nhai như thế," cô nói nhỏ. Cô rút chìa khóa phòng khách ra khỏi túi, bước tới cánh cửa ra vào trên hành lang và xoay chìa trong ổ khóa. "Nào, bây giờ thì Ivan tha hồ tự do rời khỏi nhà nhé," cô đùa, và ngay lập tức hối hận vì câu nói đó.
"Chưa đâu ạ," Luke buồn bã nói vọng từ bàn ăn. "Cậu ấy không thể tự mở cửa được."
Im lặng.

"Cậu ấy không thể?" Elizabeth nhắc lại.
Luke lắc đầu như thể cậu vừa nói điều bình thường nhất trên thế gian. Đó là điều kỳ cục nhất Elizabeth từng nghe. Một cậu bạn tưởng tượng kiểu gì mà lại không thể đi xuyên qua tường và cửa? Thôi được, cô đã không mở cửa, cô đã khóa nó lại và như thế cũng ngớ ngẩn không kém. Cô quay lại bếp để lấy đồ đi làm. Luke đã ăn xong ngũ cốc, đặt bát vào máy rửa bát, rửa tay, lau khô và bước về phía cửa phòng khách. Cậu xoay nắm đấm, đẩy cửa mở, tránh sang một bên, cười ngoác miệng với không khí, đặt một ngón tay lên môi, tay kia chỉ về phía Elizabeth rồi khúc khích cười một mình. Elizabeth nhìn thằng bé đầy sợ hãi. Cô đi dọc hành lang và đứng cạnh Luke ở cửa. Cô nhìn vào phòng khách.
Trống rỗng.
Người phụ nữ ở hãng Rentokil đã nói bình thường thì chuột không vào nhà trong tháng Sáu và khi Elizabeth nhìn khắp phòng khách đầy hoài nghi, cô tự hỏi vậy thì không biết tất cả những tiếng động chết tiệt đó từ đâu ra.
Tiếng Luke cười cắt ngang dòng suy nghĩ của cô. Liếc mắt sang phía bên kia hành lang, cô thấy cậu đang ngồi ở bàn, đung đưa chân vui vẻ và làm mặt hề với không khí. Đối diện với cậu là một chiếc ghế được dọn thêm và bát Coco Pops mới đổ ra.
"Cậu này, bác cậu khó tính nhỉ," tôi thì thầm với Luke ở bàn, cố gắng múc một muỗng đầy Coco Pops khi cô không để ý. Tôi thường không phải thì thầm khi ở gần các ông bố bà mẹ nhưng vì cô đã nghe thấy tiếng tôi vài lần trong mấy ngày vừa rồi nên tôi không định liều nữa.
Luke cười khúc khích gật đầu.
"Lúc nào bác cậu cũng thế à?"
Cậu lại gật.
"Thế bác ấy không bao giờ chơi trò chơi hay ôm hôn cậu à?" Tôi vừa hỏi vừa quan sát Elizabeth tỉ mẩn lau từng ly từng tí cái bệ bếp vốn đã sáng bóng, dịch chuyển thứ này qua trái nửa phân, thứ kia qua phải nửa phân.
Luke nghĩ ngợi một lúc rồi nhún vai. "Không nhiều."
"Nhưng thế thì chán chết đi được! Cậu không thấy khó chịu à?"
"Edith nói là trên đời cũng có một số người không hay ôm hôn cậu hoặc chơi với cậu nhưng vẫn rất yêu cậu. Chỉ là họ không biết cách nói ra thôi," cậu cũng thì thầm lại.
Elizabeth nhìn cậu lo lắng.
"Edith là ai thế?"
"Chị vú của mình."
"Chị ấy đâu?"
"Đang đi nghỉ rồi."
"Thế ai sẽ trông cậu khi chị ý đi nghỉ?"
"Cậu," Luke cười.
"Thế thì giao kèo nhé," tôi nói, nắm bàn tay lại. Luke túm lấy tay tôi. "Chúng mình làm thế này nhé," tôi giải thích, rồi lắc lư đầu và cả người giống như đang lên cơn co giật. Luke phá lên cười và làm theo tôi. Chúng tôi càng cười to hơn khi Elizabeth dừng lau dọn để nhìn chằm chằm. Mắt cô mở to.
"Cậu hỏi nhiều quá đấy," Luke thì thầm.
"Cậu trả lời nhiều quá đấy," tôi cãi lại, và hai chúng tôi lại cười.

Chiếc BMW của Elizabeth lắc lư chạy dọc con đường mấp mô dẫn tới trang trại của cha cô. Cô giận dữ siết chặt vô lăng khi những đám bụi từ mặt đường bay lên rồi bám lấy hai bên thành xe mới rửa. Cô không hiểu nổi làm sao mình có thể sống ở cái trang trại này suốt mười tám năm. Không có thứ gì giữ được sạch sẽ. Những bông hoa vân anh dại nhảy múa trong làn gió nhẹ, vẫy chào họ từ bên đường. Chúng xếp thành hàng trên con đường dài hàng dặm như đèn dẫn đường, cọ vào cửa xe, tì mặt vào tấm kính để xem ai đang ở bên trong. Luke hạ cửa sổ xe xuống để cho những bông hoa hôn vào tay nhồn nhột.
Cô cầu cho không có chiếc xe nào đi tới vì con đường chỉ vừa đủ cho cô đi, chẳng có chỗ nào mà tránh xe ngược chiều. Muốn nhường đường thì chỉ có cách lùi nửa dặm quay về điểm xuất phát. Nhiều khi có cảm tưởng đây là con đường dài nhất thế giới. Cô có thể nhìn thấy đích vậy mà cứ luôn phải lùi lại trước khi có thể tới nơi.
Hai bước tiến và một bước lùi.
Như khi còn nhỏ, cô nhìn thấy mẹ ừ cách xa cả dặm nhưng bắt buộc phải chờ đợi hai mươi phút từ lúc mẹ cô nhún nhảy trên đường cho tới khi Elizabeth nghe thấy tiếng cửa cọt kẹt quen thuộc.
Nhưng tạ ơn Chúa, vì họ xuất phát chậm nên bây giờ không có chiếc xe ngược chiều nào. Lời nói của Elizabeth rõ ràng như nước đổ lá khoai vì Luke nhất định không chịu ra khỏi nhà cho tới khi Ivan ăn xong chỗ ngũ cốc. Sau đó nó còn khăng khăng bắt cô phải nhấc ghế trước lên để Ivan trèo vào ngồi phía sau.
Cô liếc nhanh về phía Luke. Nó ngồi ở ghế trước, đã thắt dây an toàn,tôi ay thò ra ngoài cửa sổ, ngân nga bài hát mà nó đã hát đi hát lại cả kỳ nghỉ cuối tuần vừa rồi. Trông nó có vẻ vui. Cô hy vọng trò đóng kịch của thằng bé sẽ không kéo dài lâu nữa, ít nhất là không phải khi nó đang ở nhà ông ngoại.
Cô có thể thấy cha cô đứng ở cổng, chờ đợi. Một khung cảnh quen thuộc. Một hành động quen thuộc. Chờ đợi là sở trường của cha cô. Ông mặc chiếc quần nhung kẻ mà Elizabeth có thể thề là ông đã mặc nó từ thời cô còn bé. Hai ống quần nhét vào đôi ủng xanh Wellington lấm lem bùn đất ông thường đi trong nhà. Chiếc áo xám bằng vải cotton được can những mảnh vải hình thoi xanh lục và da trời đã bạc màu, có một lỗ thủng ở chính giữa để lộ màu xanh của chiếc áo pôlô mặc bên trong. Chiếc mũ bằng vải tuýt đội chặt trên đầu, chiếc gậy bằng cành mận gai bên tay phải giúp ông đứng thẳng, bộ râu hoa râm viền trên mặt và cằm. Cặp lông mày hoa râm mọc rậm rịt, khi ông nheo mắt lại thì chúng dường như che hoàn toàn đôi mắt xám của ông. Chiếc mũ choán hết khuôn mặt, với hai lỗ mũi lớn đầy lông xám. Những nếp nhăn sâu hằn trên khuôn mặt, đôi tay to như hai cái xẻng, vai rộng như thung lũng Dunloe. Ông đã làm cho ngôi nhà gỗ phía sau dường như nhỏ lại.
Luke ngừng ngân nga trong miệng ngay khi thấy ông ngoại và rụt tay vào trong xe. Elizabeth dừng xe, tắt máy rồi nhảy ra ngoài. Cô đã nghĩ ra một kế. Luke vừa ra khỏi xe thì cô đã đóng cửa và khóa lại trước khi thằng bé có cơ hội kéo ghế dọn đường cho Ivan chui ra. Mặt Luke nhăn lại khi nó nhìn Elizabeth rồi quay lại phía chiếc xe.
Chiếc cổng phía bên ngoài ngôi nhà gỗ kêu cót két.
Bụng Elizabeth nôn nao.
"Buổi sáng," một giọng trầm cất lên. Đây không phải là lời chào. Đây là câu khẳng định.
Môi dưới của Luke run run và cậu tì cả mặt lẫn tay lên mặt kính ở ghế sau. Elizabeth hy vọng bây giờ thằng bé sẽ không quấy ầm lên.
"Con không chào ông ngoại à, Luke?" Elizabeth nghiêm nghị hỏi, hoàn toàn ý thức được rằng chính mình cũng chưa chào ông.
"Cháu chào ông ạ." Giọng Luke run run. Khuôn mặt vẫn tì lên cửa kính.
Elizabeth định mở cửa xe để tránh thằng bé làm ầm lên nhưng rồi quyết định thôi. Nó cần phải vượt qua giai đoạn này.
"Thế còn đứa kia đâu?" Brendan hỏi lớn.
"Đứa kia nào ạ?" Cô cầm tay Luke cố kéo nó ra xa chiếc xe. Đôi mắt xanh của thằng bé nhìn cô khẩn khoản. Tim cô chùng xuống. Thằng bé biết rõ không nên gây chuyện ầm ỹ.
"Thằng bé con biết về các loại rau nước ngoài ấy."
"Ivan," Luke buồn bã nói, nước mắt ứa ra.
Elizabeth nhảy vào, "Ivan hôm nay không đến được, đúng không Luke? Có lẽ hôm khác bố ạ," cô nói nhanh, trước khi câu chuyện có thể đi xa hơn, "Thôi, con phải đi làm không thì muộn mất. Luke, chơi ngoan với ông ngoại nhé!".
Luke nhìn cô do dự rồi gật đầu.
Elizabeth thấy ghét bản thân mình nhưng cô biết mình đã đúng khi kiểm soát lối cư xử kỳ cục này.
"Vậy cô đi đi." Brendon hươ chiếc gậy bằng cành mận gai về phía cô như xua đuổi, rồi quay đi hướng về phía ngôi nhà gỗ. Tiếng động cuối cùng cô nghe thấy là tiếng chiếc cổng cót két trước khi cô sập cửa xe lại. Cô phải lùi xe hai lần nhường đường cho hai chiếc máy kéo. Qua gương chiếu hậu cô có thể thấy Luke và cha cô đứng ở vườn trước, cha cô che khuất hết cả thằng bé. Cô không thể rời khỏi ngôi nhà nhanh như cô muốn; như thể dòng xe cộ là đợt thủy triều cứ đẩy cô quay lại mãi.

Elizabeth còn nhớ lúc mười tám tuổi, cô đã vui mừng như thế nào khi thoát khỏi khung cảnh này. Lần đầu tiên trong đời, cô khăn gói rời khỏi ngôi nhà gỗ, dự định sẽ không quay lại trước Giáng sinh. Cô đến Đại học Cork sau khi chiến thắng cha nhưng đổi lại đã đánh mất toàn bộ sự tôn trọng ông từng dành cho cô. Thay vì chia sẻ niềm phấn khích với cô, ông lại nhất quyết không chịu gặp mặt từ biêt trong ngày trọng đại đó của cô. Khi ra đi vào buổi sáng tháng Tám đẹp trời đó, người duy nhất Elizabeth nhìn thấy đứng bên ngoài ngôi nhà gỗ là cô bé sáu tuổi Saoire, mái tóc đỏ rối bù buộc vổng, nụ cuời thiếu mấy cái răng nhưng tươi rói hết cỡ, tay cuống quýt vẫy chào tạm biệt, tràn ngập niềm tự hào dành cho người chị.
Thay vì sự nhẹ nhõm và phấn khích mà cô hằng mơ tưởng khi chiếc taxi cuối cùng cũng rời xa ngôi nhà, cắt đứt sợi dây nhau ràng buộc cô với nó, cô lại cảm thấy sợ hãi và lo lắng. Không phải vì những gì đang nằm ở phía trước, mà vì những thứ cô để lại phía sau. Cô không thể chăm sóc Saoire mãi mãi, cô là một thiếu nữ cần được tự do, cần phải tìm thấy chỗ đứng của chính mình trong thế giới này. Cha cô cần phải tiếp nhận vai trò người cha chính đáng của ông, cái vị trí ông đã bỏ mặc nhiều năm và từ chối công nhận. Cô hy vọng rằng giờ đây khi chỉ có hai người họ thì cha cô sẽ nhận ra trách nhiệm của mình và chứng tỏ tất cả tình yêu thương đối với những gì ông đã bỏ bễ.
Nhưng nếu không như thế thì sao? Cô tiếp tục nhìn em gái qua tấm kính sau, cảm giác như mình sẽ không bao giờ nhìn thấy nó nữa, cuống quýt vẫy tay trong khi nước mắt tràn mi, thương cho cái sinh mệnh bé bỏng và nguồn năng lực tiềm tàng mà cô để lại phía sau. Từ xa cả dặm vẫn có thể nhìn thấy mớ tóc đỏ nhấp nhô nên hai chị em tiếp tục vẫy chào nhau. Cô em gái bé nhỏ của sẽ làm gì đây khi niềm vui chào từ biệt cô kết thúc và nhận ra thực tế là nó chỉ còn lại một mình với người đàn ông không bao nói chuyện, không bao giờ giúp đỡ và không bao giờ yêu thương. Ngay lúc đó, Elizabeth suýt nữa đã bảo người lái xe dừng lại, nhưng vội nhắc mình phải mạnh mẽ. Cô cần phải sống.
Rồi một ngày nào đó em sẽ hành động như chị, Saoire bé bỏng, đôi mắt cô nói thầm với cái bóng dáng nhỏ nhoi khi chiếc xe chạy xa gần. Hãy hứa với chị em cũng sẽ hành động tương tự. Bay khỏi nơi đó.

Nước mắt giàn giụa, Elizabeth dõi mắt theo ngôi nhà gỗ càng lúc càng nhỏ lại trong chiếc gương chiếu hậu cho tới lúc nó biến mất khi cô tới cuối con đường dài một dặm. Bỗng nhiên vai cô giãn ra và cô nhận ra mình đã nín thở suốt quãng thời gian đó.
"Đúng vậy, Ivan," cô nói, nhìn qua gương chiếu hậu vào băng ghế sau trống rỗng, "Tôi đoán vậy là cậu sẽ đi làm cùng tôi." Rồi cô làm một hành động kỳ quặc.
Cô cười khúc khích như trẻ con.

Quote:
Originally posted by: Hoa_Phuong

CHƯƠNG 7

Baile na gCroíthe đang vô cùng náo nhiệt khi Elizabeth lái xe qua cây cầu bằng đá xám vốn được coi như cửa ngõ của thị trấn. Hai chiếc xe buýt lớn chật ních khách du lịch đang cố chen nhau từng tí một trên con đường hẹp. Bên trong, Elizabeth có thể thấy những khuôn mặt tì vào cửa kính, ô và a, cười nói chỉ trỏ, những chiếc máy ảnh giơ cao chụp qua tấm kinh cảnh vật của thị trấn búp bê. Người lái xe buýt đối diện với Elizabeth liếm môi vẻ tập trung, và cô có thể thấy mồ hôi lấp loáng trên cặp lông mày khi anh ta điều khiển chiếc xe quá khổ chậm chạp tiến trên con đường hẹp vốn được thiết kế dành cho ngựa và xe ngựa. Thành hai chiếc xe gần như chạm vào nhau. Bên cạnh anh ta, người hướng dẫn du lịch, với chiếc micro trong tay, cố hết sức góp vui cho một trăm khán giả đang hăng hái trong lúc sáng tinh mơ như thế này.
Elizabeth kéo phanh tay và thở dài thật to. Đây không phải sự kiện hiếm hoi trong thị trấn và cô biết có lẽ sẽ mất thời gian. Cô không nghĩ rằng hai chiếc xe buýt sẽ đỗ lại. Chúng chẳng mấy khi dừng lại trừ khi để khách đi vệ sinh. Dường như xe cộ luôn luôn đi qua Baile na gCroíthe nhưng không bao giờ dừng lại. Cô không trách họ, đây là con đường vô cùng tiện lợi để giúp ta tới được nơi cần đến, nhưng không phải chỗ để quanh quẩn. Xe sẽ đi chậm lại để khách khứa ngắm nghía một chút, nhưng sau đó tài xế sẽ hạ chân xuống và phóng tới cuối đường.
Không phải vì Baile na gCroíthe không đẹp - đó là điều chắc chắn. Thời khắc huy hoàng nhất của thị trấn là khi nó đoạt giải thị trấn sạch đẹp lần thứ ba liên tiếp. Và khi bạn vào thị trấn, những bông hoa rực rỡ khoe sắc khoe hương trên cầu sẽ bày tỏ thái độ hân hoan chào đón. Cuộc trình diễn hoa đó sẽ tiếp tục khắp thị trấn. Những chậu hoa trên cửa sổ tô điểm cho mặt tiền cửa hàng, những giỏ hoa treo trên các cột đèn sơn đen, cây cối vươn cao dọc tuyến phố chính. Mỗi tòa nhà được sơn một màu khác nhau, và phố chính, con phố duy nhất, là một dải cầu vồng màu lam nhạt và màu xanh bạc hà, hồng da cam, màu hoa cà, vàng chanh và xanh da trời. Vỉa hè sạch sẽ bóng loáng, và ngay khi ngước mắt vượt lên trên những nóc nhà xám đen, bạn sẽ thấy mình đang lọt thỏm giữa những ngọn núi xanh hùng vĩ. Như thể Baile na gCroíthe được bọc trong một cái kén, an toàn dưới sự che chở của Mẹ Tự nhiên.
Ấm cúng hoặc ngạt thở.
Văn phòng của Elizabeth đặt cạnh cái bưu điện màu xanh lục và siêu thị màu vàng. Tòa nhà của cô có màu xanh da trời nhạt, nằm trên cửa hàng vải, rèm và bọc đệm của bà Bracken. Nơi đây từng là cửa hàng vật liệu do ông Bracken quản lý, nhưng khi ông mất mười năm trước, Gwen đã quyết định biến nó thành cửa hiệu của mình. Có vẻ như bà đưa ra quyết định hoàn toàn dựa trên suy nghĩ của chồng. Bà mở cửa hàng "vì đó là điều ông Braken muốn". Mặc dù vậy, Gwen không chịu đi chơi vào dịp cuối tuần hay tham gia bất kỳ hoạt động xã hội nào vì "đó không phải là điều ông Braken muốn." Theo như Elizabeth nhận thấy, điều khiến ông Braken vui hay không vui có vẻ như gắn chặt với triết lý sống của Gwen.
Hai chiếc xe lách qua nhau từng chút một. Baile na gCroíthe trong giờ cao điểm; kết quả của việc hai chiếc xe buýt quá khổ tránh nhau trên con đường hẹp. Cuối cùng chúng cũng lách qua được, và khi nhìn vào trong xe, Elizabeth không lấy làm buồn cuời khi thấy hướng dẫn viên du lịch mừng rỡ nhảy bật ra khỏi ghế, micro trong tay, đã thành công trong việc biến khoảng thời gian tạm dừng tẻ nhạt thành một chuyến phiêu lưu xe buýt tràn ngập sự kiện trên những con đường ngoại ô Ailen. Tiếng vỗ tay vui vẻ vang khắp xe. Ai ai cũng mừng. Thêm nhiều ánh đèn flash lóe lên qua cửa sổ và hành khách trên cả hai chiếc xe vẫy tay tạm biệt nhau sau khi cùng chia sẻ những giây phút phấn khích buổi sáng.
Elizabeth tiếp tục lái xe, nhìn qua kính chiếu hậu thấy không khí hân hoan trên chiếc xe đang vui sướng ăn mừng lắng xuống khi họ đối diện với một chiếc xe khác trên chiếc cầu nhỏ dẫn ra khỏi thị trấn. Những cánh tay từ từ hạ xuống và ánh đèn flash tắt ngấm khi các vị khách du lịch lại phải đối mặt với một cuộc giằng co dai dẳng khác.
Thị trấn này vẫn thường như thế. Gần như nó cố tình làm như vậy. Nó mở rộng vòng tay nồng nhiệt chào đón bạn, cho bạn thấy tất cả những gì nó cần trưng ra với các mặt tiền cửa hàng được trang trí bằng những bông hoa rực rỡ sắc màu. Giống như đưa một đứa trẻ vào cửa hàng bánh kẹo, chỉ cho nó thấy những giá kẹo đủ màu sắc thích mắt khiến người ta chảy nước miếng. Và rồi khi chúng đang đứng đó nhìn quanh với đôi mắt mở to và lòng khấp khởi thì những chiếc nắp lại được đậy lên lọ và đóng thật chặt. Một khi người ta đã nhận ra vẻ đẹp của nó thì cũng là lúc không còn gì để chào mời thêm nữa.
Chiếc cầu, thật kỳ lạ, dẫn xe cộ dễ dàng vào thị trấn. Nhưng nó lượn theo một hình thù khác thường, khiến việc lái xe rời khỏi thị trấn rất khó khăn. Lần nào điều y cũng làm Elizabeth bực mình. Nó giống con đường chạy từ ngôi nhà thuở nhỏ của Elizabeth; cô nhận thấy không thể rời đi một cách nhanh chóng được. Nhưng có điều gì đó ở thị trấn luôn kéo cô trở lại và đã bao nhiêu năm cô cố gắng chống lại lực hút đó. Cô đã từng chuyển đến sống ở New York. Cô đã đi theo bạn trai, đã có cơ hội thiết kế cho một hộp đêm, chỉ thế thôi. Cô đã yêu nơi đó. yêu thích việc không ai biết tên, khuôn mặt hay lịch sử gia đình cô. Cô có thể mua cà phê, hàng ngàn loại cà phê khác nhau, mà không phải nhận ánh nhìn ái ngại dành cho bất cứ biến cố nào mới xảy ra trong gia đình cô. Không ai biết mẹ cô đã bỏ đi từ lúc cô cònnhỏ, em gái cô là kẻ tự do phóng túng không thể quản lý được còn cha cô gần như chẳng bao giờ nói chuyện với cô. Cô thích được yêu thương ở đó. Ở New York cô có thể là bất kỳ ai cô muốn. Ở Baile na gCroíthe cô không thể trốn tránh được con người thật của mình.
Cô nhận ra mình đã ngân nga suốt dọc đường, cái bài hát ngốc nghếch mà Luke cố thuyết phục cô là do "Ivan" sáng tác. L gọi nó là "bài hát thầm", và nó dễ thuộc tới mức khó chịu, vui nhộn và lặp đi lặp lại. Cô thôi hát và lái xe vào một chỗ trống trên đường. Cô đẩy chiếc ghế tài xế ngả ra và vươn người với lấy cái vali ở ghế sau. Điều quan trọng hơn cả: cà phê. Baile na gCroíthe vẫn chưa biết đến sự kỳ diệu của Starbucks - thực tế là chỉ đến tháng trước Joe mới chịu cho cô mang cà phê đi, nhưng người chủ quán càng lúc càng trở nên mệt mỏi với việc phải nhắc khách mang trả cốc.
Đôi khi Elizabeth nghĩ cả thị trấn này cần được tiêm một liều cafêin; giống như vào những ngày mùa đông khi nơi này vẫn còn nhắm mắt đi trong cơn mộng du. Nó cần một cú lắc mạnh. Nhưng những ngày hè như hôm nay thì luôn tấp nập người qua lại. Cô vào Joe'sẽ, một cửa hàng sơn màu tím gần như lúc nào cũng vắng tanh vắng ngắt. Người dân thị trấn vẫn chưa quen với khái niệm ăn sáng ở ngoài.
"À, cô ấy đây, người phụ nữ ấy đây rồi," Joe cất giọng ê a. "Chắc chắn là cô ấy thèm cà phê đến phát điên lên rồi."
"Chào anh, Joe."
Joe giả bộ xem giờ rồi gõ gõ lên mặt đồng hồ. "Sáng nay hơi muộn đúng không?" Anh ta nhướng mày nhìn cô. "Tôi nghĩ có lẽ cô bị cúm nằm bẹp trên giường rồi. Hình như tuần này nhiều người bị cúm lắm thì phải." Anh ta cố hạ giọng nhưng cuối cùng thành ra chỉ cúi thấp đầu, còn giọng lại cao hơn. "Chẳng phải Sandy O'Flynn đã nhiễm bệnh ngay sau cái tối biến khỏi câu lạc bộ cùng với P.J.Flanagan sao cái anh chàng cũng bị cúm tuần trước ấy. Cô ta phải nằm bẹp suốt mấy ngày cuối tuần đấy." Anh ta khịt mũi nghi ngờ. "Có mà đưa cô ta về nhà cái con khỉ. Cả đời tôi chưa từng nghe chuyện gì vô lý đến thế."
Cảm giác bực bội trào dâng trong Elizabeth. Cô không quan tâm tới chuyện ngồi lê đôi mách về những người cô không quen biết, đặc biệt khi từ lâu cô đã biết chính gia đình mình cũng là chủ đề cho những cuộc tán gẫu đó.
"Cho tôi một cà phê, Joe." Cô nói ngắn gọn, phớt lờ lời huyên thuyên của anh ta. "Mang đi. Kem không sữa," cô nói nghiêm nghị, mặc dù ngày nào cô cũng uống như thế, đồng thời khua khoắng trong túi tìm ví, cố ý cho Joe thấy cô không có thời gian tán dóc.
Anh ta chậm chạp tiến về phía máy pha cà phê. Điều khiến Elizabeth khó chịu nhất là Joe chỉ bán một loại cà phê. Và là cà phê hòa tan. Elizabeth nhớ những mùi vị đa dạng cô đã được thưởng thức ở những thị trấn khác; cô nhớ mùi vani Pháp ngọt ngào dễ chịu trong quán cà phê ở Paris, vị kem hạnh nhân béo ngậy trong tiệm cà phê náo nhiệt ở New York rồ mùi vị quả hạch Macadamia nồng nàn ở Milan và thứ hương vị cô yêu thích nhất, cà phê dừa Mocha, một hỗn hợp sôcôla dừa đã đưa cô từ chiếc ghế ở công viên Trung tâm tới chiếc ghế nằm phơi nắng ở Caribê. Còn ở Baile na gCroíthe này, Joe đổ đầy ấm nước rồi bật công tắc. Một cái ấm bé tẹo vớ vẩn cho cả quán và anh ta cũng chẳng thèm đun nước sẵn. Elizabeth nhướng mắt.
Joe nhìn cô chằm chằm. Có vẻ như anh ta đang muốn nói –
"Sao cô muộn thế?"
- chính điều đó.
"Tôi chỉ muộn hơn bình thường năm phút thôi Joe." Elizabeth nói vẻ hoài nghi.
"Tôi biết, tôi biết, và năm phút đối với cô thì như là cả năm tiếng vậy. Theo thời gian của cô thì loài gấu cũng không có kế hoạch ngủ đông phải không?"
Dù không muốn, câu nói vẫn làm Elizabeth mỉm cười.
Joe tủm tỉm cười và nháy mắt. "Thế thì tốt hơn rồi." Chiếc ấm reo lên báo hiệu nước sôi và anh ta quay đi pha cà phê.
"Mấy cái xe buýt làm tôi muộn giờ," Elizabeth nói nhỏ, đón tách nước ấm từ tay Joe.
"À, tôi có thấy." Anh ta hất hàm chỉ ra ngoài cửa sổ. "Jaimsie thoát khỏi chỗ đó cũng cừ đấy chứ."

"Jaimsie?" Elizabeth nheo mắt, thêm một chút kem vào ly. Nó tan nhanh và làm chiếc tách đầy đến miệng, Joe nhìn với vẻ khó chịu.
"Jaimsie O'Connor. Con ông Jack." anh ta giải thích. "Jack mà có cô con gái Mary mới đính hôn với anh chàng người Dublin cuối tuần trước ấy. Sống ở Mayjfair. Năm con. Đứa nhỏ nhất vừa bị bắt dưới đó tuần trước vì ném chai rượu vào Josseph."
Elizabeth đứng đờ ra nhìn anh ta một cách vô cảm.
"Josseh McCann," anh ta nhắc lại, cứ như thể cô bị điên vì không biết những người này vậy. "Con trai của Paddy. Sống ở Newtown. Vợ chết đuối ở đầm lầy năm ngoái. Con gái anh ta là Maggie nói đấy là tai nạn nhưng rõ ràng phải nghi ngờ vì họ suốt ngày gây gổ về chuyện không cho cô ta bỏ đi với gã phá rối người Cahirciveen."
Elizabeth đặt tiền lên quầy và mỉm cười, không muốn tham gia vào cuộc đối thoại kỳ cục của anh ta lâu hơn nữa. "Cảm ơn Joe," cô vừa nói vừa bước ra cửa.
"Thôi được rồi," anh ta thôi huyên thuyên. "Jaimsie là người lái chiếc xe buýt đấy. Đừng quên mang trả tách nhé," anh ta gọi với theo, và càu nhàu một mình, "Cà phê mang đi, cả đời mày đã bao giờ nghe chuyện gì lố bịch đến thế chưa?"
Trước khi bước ra ngoài, "Elizabeth hỏi vọng vào, "Joe, anh đã bao giờ nghĩ tới việc mua một chiếc máy pha cà phê chưa? Như thế anh có thể pha cà phê latte, capuchino, espresso, thay vì chỉ có cái thứ bột hòa tan này?" Cô giơ chiếc tách lên.
Joe khoanh tay, tựa vào quầy hàng và đáp lại với giọng chán nản, "Elizabeth, nếu cô không thích cà phê của tôi, thì đừng có uống. Tôi uống trà. Tôi chỉ thích một loại trà thôi. Nó được gọi là Trà. Không có cái tên mỹ miều nào khác."
Elizabeth mỉm cuời. "Thực ra có rất nhiều loại trà khác nhau. Trà Tàu..."
"Ôi, cô mang nó đi đi." Anh ta vẫy tay xua cô đi. "Nếu cô thích thì tất cả chúng ta sẽ uống trà bằng đũa và sôcôla với kem và cà phê giống như chúng là món tráng miệng vậy. Nhưng nếu cô muốn, tại sao tôi lại không đưa ra gợi ý nhỉ: sao không tự mua một cái ấm đặt ở văn phòng và chấm dứt nỗi khổ này cho tôi?"
"Và chấm dứt việc làm ăn luôn," Elizabeth cười, rồi bước ra ngoài.
Ngôi làng vươn vai ngáp, ngái ngủ rời khỏi giường đến phòng tắm. Chẳng mấy chốc nó sẽ tắm, mặc quần áo và tỉnh như sáo. Như thường lệ, cô đã đi trước nó một bước, cho dù hôm nay cô có đi muộn.
Elizabeth luôn là người đến văn phòng đầu tiên; cô thích sự im lặng, sự tĩnh mịch của văn phòng vào giờ dó. Nó giúp cô tập trung vào những gì cần làm tiếp theo trước khi các đồng nghiệp ầm ĩ của cô ba hoa tán phét xung quanh và trước khi dòng xe cộ đổ ra đường phố. Elizabeth không phải kiểu người vui nhộn hay chuyện. Cũng như việc phải ăn để sống, cô chỉ nói những gì cần phải nói. Cô không phải kiểu người hóng hớt ở các nhà hàng và quán cà phê, cười thầm và đưa chuyện hôm nào đó có ai đó đã nói điều này điều nọ. Đối thoại về những điều vô bổ không làm cô quan tâm.
Cô không chẻ nhỏ hay phân tích những cuộc đối thoại, những ánh mắt, vẻ mặt hay các tình huống. Với cô không có chuyện mập mờ đa nghĩa; lúc nào cũng vậy, cứ ý như thế nào thì cô nói như thế đó. Cô không thích bàn cãi hay tranh luận căng thẳng. Nhưng khi ngồi trong yên lặng của văn phòng nhỏ, cô đoán đó chính là lý do khiến mình không có nhiều bạn bè. Cô đã từng cố gắng hòa nhập, đặc biệt suốt thời đại học khi cô nỗ lực ổn định cuộc sống, nhưng rồi, ngay khi làm thế, cô lại nhanh chóng chán ghét những cuộc trò chuyện huyên thuyên không đâu vào đâu.
Từ khi còn nhỏ cô đã không mong mỏi có bạn bè. Cô thích ở một mình, với suy nghĩ của riêng cô, và sau này, khi đang tuổi thanh xuân, cô có Saoirse để làm mình xao nhãng. Cô thích cách sống ngăn nắp mà trong đó cô có thể dựa vào bản thân mình và quản lý thời gian hiệu quả hơn khi không có bạn bè. Khi từ New York trở về, cô đã thử mời hàng xóm đến tham gia bữa tiệc  tối tại ngôi nhà mới của cô. Cô đã nghĩ mình sẽ thử một khởi đầu mới, thử kết bạn, giống như hầu hết mọi người, nhưng như thường lệ Saoirse lại đâm bổ vào nhà và trong một cuộc đột kích tàn nhẫn đã thành công trong việc xúc phạm tất cả mọi người trong bàn ăn. Cô kết tội Ray Collins ngoại tình, Bernie Conway từng đi phẫu thuật ngực và ông Kevin Smith sáu mươi tuổi thì hay nhìn cô với ánh mắt khiêu dâm. Kết quả những lời lảm nhảm ầm ĩ của Saoirse là thằng Luke chín tháng tuổi khóc ầm lên, mấy khuôn mặt đỏ bừng ở bàn ăn và một vỉ thịt cừu cháy.
Tất nhiên hàng xóm của cô không hẹp hòi đến mức cho rằng Elizabeth phải chịu trách nhiệm về cách hành xử của gia đình, nhưng sau vụ đó cô đã bỏ cuộc. Cô không mong muốn có bầu có bạn đến mức có thể đương đầu với cảm giác xấu hổ khi luôn phải giải thích và xin lỗi.
Sự im lặng có giá trị với nỗi cô hơn ngàn lời nói. Trong im lặng cô tìm thấy sự bình yên và cảm giác rõ ràng sáng sủa. Ngoại trừ ban đêm, khi những ý nghĩ rối tung như mớ bòng bong khiến cô thao thức, như hàng ngàn giọng nói hết nhảy vào lại nhảy ra, liên tục ngắt lời nhau đến nỗi cô gần như không chợp mắt được.
Ngay lúc này cô đang lo lắng về lối hành xử của Luke. Cái nhân vật Ivan này đã luẩn quẩn trong đầu cháu cô quá lâu rồi. Suốt cuối tuần vừa rồi, cô đã quan sát thằng bé đi lại, nói chuyện và chơi trò chơi một mình. Cười phá lên và khúc khích như đang sung sướng nhất đời. Có lẽ cô nên làm gì đó. Edith thì lại không có mặt để chứng kiến hành vi kỳ cục của thằng bé để rồi xử lý bằng một cách tuyệt vời luôn mang đến thành công cho cô ấy. Có lẽ Elizabeth cần tự biết phải làm gì. Một lần nữa những bí ẩn của bổn phận làm mẹ lại ngóc cái đầu xấu xí của chúng lên và cô không có ai để xin lời khuyên. Cũng chẳng mang đến thành công cho cô ấy. Có lẽ Elizabeth cần tự biết phải làm gì. Một lần nữa những bí ẩn của bổn phận làm mẹ lại ngóc cái đầu xấu xí của chúng lên và cô không có ai để xin lời khuyên. Cũng chẳng có tấm gương nào để noi theo. Ồ, cũng không phải sự thực hoàn toàn - cô đã học được những gì không được làm, một bài học cũng đáng giá như bất kỳ bài học nào. Cho đến giờ cô đã tuân theo bản năng của mình, mắc một số sai lầm, nhưng nhìn chung Luke đã trở thành một đứa trẻ ngoan ngoãn và vững vàng. Hay có thể mọi thứ cô làm đều sai. Điều gì sẽ xảy ra nếu Luke trở thành người giống Saoirse? Cô đã làm điều gì sai khi Saoirse còn nhỏ khiến em cô trở thành người như vậy? Elizabeth lầm bầm khó chịu rồi gục đầu lên mặt bàn.
Cô bật máy tính và nhấm nháp cà phê chờ máy khởi động. Rồi cô vào Google, gõ cụm từ "bạn tưởng tượng", và nhấn nút Tìm kiếm. Hàng trăm trang web hiện ra. Ba mươi phút sau cô đã hiểu rõ hơn về Ivan.
Trước sự ngạc nhiên của cô, cô được biết về những người bạn tưởng tượng khá phổ biến và không phải là vấn đề lớn nếu họ không can thiệp vào cuộc sống bình thường. Mặc dù việc có một người bạn tưởng tượng đã là một sự can thiệp trực tiếp vào cuộc sống bình thường nhưng có vẻ đối với các bác sĩ trực tuyến thì đó không phải là vấn đề. Hết trang này đến trang khác khuyên cô hỏi Luke xem Ivan nghĩ gì và làm gì vì đó là cách hiệu quả để Elizabeth hiểu được Luke nghĩ gì. Người ta khuyến khích Elizabeth xếp chỗ cho người bạn ảo trong bàn ăn và không cần nói rằng "bạn" của Luke chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của nó mà thôi. Cô nhẹ cả lòng khi biết những người bạn tưởng tượng là dấu hiệu của sự sáng tạo chứ không phải của sự cô đơn hay căng thẳng.
Nhưng dù vậy, Elizabeth không dễ dàng chấp nhận được chuyện này. Nó chống lại tất cả những gì cô tin. Thế giới của cô và vùng đất ảo tồn tại trên hai bề mặt khác nhau và cô thấy khó mà đóng kịch được. Cô không thể bắt chước giọng trẻ con khi nói chuyện với trẻ con, không thể giả vờ giấu mặt sau hai bàn tay hoặc giả giọng thành chú gấu bông, thậm chí cô còn không thể đóng kịch ở trường đại học. Cô đã lớn lên mà không có những trò này, không muốn giống mẹ vì sợ cha nổi giận. Cô đã thấm nhuần điều đó từ lúc còn rất nhỏ, nhưng giờ đây các chuyên gia đang khuyên cô phải thay đổi tất cả.
Cô uống nốt ngụm cà phê cuối cùng lạnh ngắt và đọc dòng cuối trên màn hình.
“Những người bạn tưởng tượng biến mất trong vòng ba tháng, dù bạn có khuyến khích họ hay không.”
Sau ba tháng nữa cô sẽ sung sướng nhìn Ivan ra đi và trở lại cuộc sống bình thường. Cô lật lật quyển lịch và khoanh tròn tháng tám bằng bút đỏ. Nếu đến lúc đó Ivan vẫn chưa ra khỏi nhà cô, thì cô sẽ mở cửa và tự đuổi anh ta đi.


All times are GMT -4. The time now is 2:19 am.